MỐI QUAN HỆ GIỮA GIA ĐÌNH VÀ DÒNG HỌ Ở NHẬT BẢN

Ở bất kỳ một quốc gia nào dòng họ đều có những mối liên quan và có những ảnh hưởng nhất định đến các gia đình thuộc các dòng họ đó, nhất là đối với những quốc gia phương Đông theo đạo Khổng. Mối quan hệ qua lại giữa gia đình và dòng họ cũng còn tuỳ thuộc vào trình độ phát triển xã hội cụ thể của mỗi quốc gia. Bài viết này xem xét mối quan hệ trên ở Nhật Bản trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá những năm vừa qua.

Từ thời xa xưa, các mối quan hệ của các gia đình Nhật Bản với bà con họ hàng vẫn còn bảo lưu cho mãi tận ngày nay bao gồm nhiều mối liên hệ qua lại với hai phía họ hàng nội ngoại. Thứ nhất, mỗi người Nhật đều thuộc về một dòng họ nhất định, như mọi người đều biết, là gia đình lớn, bao gồm trong đó nhiều cặp vợ chồng và những con cái của họ chưa đến tuổi trưởng thành và những bà con họ hàng anh em của người chồng: bố mẹ chồng, anh em trai chưa vợ và chị em gái chưa chồng. Thứ hai, cùng với các gia đình của mình, mỗi người cũng thuộc về một tổ chức họ hàng rộng lớn hơn được gọi là Dozoku, là tập hợp của nhiều gia đình lớn, có cùng chung một dòng họ, hay nói theo cách khác, có chung một ông tổ tính theo dòng cha, mà họ của ông ta được truyền cho những người đứng đầu các gia đình lớn. Những người đứng đầu tập hợp nhiều gia đình gốc được gọi là khonke. Dòng họ của người đứng đầu khonke được truyền trực tiếp cho người con trai trưởng, theo dòng trưởng, nghĩa là: chỉ cho người con trai trưởng, cho người cháu trai trưởng v.v… đây là cái cốt lõi nhất của tổ chức họ hàng ở Nhật Bản. Còn tập hợp những người ngoại vi của nó là các gia đình nhánh (bunke), đứng đầu những gia đình loại này là những người con trai thứ được tách ra một lúc nào đó từ ngôi nhà của khonke. Trong các mối quan hệ này, ngay từ đầu, mối quan hệ giữa gia đình gốc và các gia đình nhánh đã là bất bình đẳng, gia đình gốc bao giờ cũng ở bậc trên (chi trên) so với các gia đình nhánh (chi dưới). Vị thế của mỗi gia đình trong khuôn khổ Dozoku được xác định nghiêm ngặt bởi bộ luật không thành văn của những quy định và chuẩn mực đạo đức ứng xử và những nghĩa vụ. Nghiên cứu vấn đề này, nhà dân tộc học người Nga C.A. Arutiunov đã viết: “Người đứng đầu của gia đình gốc có ảnh hưởng lớn đối với các gia đình nhánh. Ông ta không những đưa ra những lời khuyên mà còn có tiếng nói quyết định đối với những công việc của các gia đình nhánh như: cưới vợ cho con cái, cúng giỗ của dòng họ…Năm hết, tết đến cũng như những ngày lễ khác các gia đình nhánh phải mang một số quà “đến mừng” gia đình gốc. Gia đình nhánh phải có nghĩa vụ giúp đỡ gia đình gốc làm các công việc đồng áng, ví dụ như: nhổ mạ, cấy lúa v.v… Địa vị các gia đình nhánh phụ thuộc vào điều là gia đình đó được hình thành tách khỏi gia đình gốc trước hoặc sau sẽ đứng ở bậc thang đẳng cấp cao hơn hoặc thấp hơn và dĩ nhiên có nhiều quyền lực không như nhau trong các công việc chung của dòng họ cũng như thực hiện các nghĩa vụ của dòng họ đối với làng xóm”(1). Song, tất cả những công việc trên là của thời xa xưa. Vào giữa những năm 70, của thế kỉ 20, các nhà xã hội học Nhật Bản nghiên cứu cơ cấu và chức năng của tổ chức dòng họ gồm nhiều gia đình lớn gộp thành Dozoku đã lưu ý chúng ta về sự tồn tại của tổ chức này chỉ trong mối quan hệ nghiên cứu lối sống, phong tục tập quán của những người nông dân. Và tất nhiên cũng cần phải có lời bổ xung thêm là ở phần lớn vùng nông thôn Nhật Bản tổ chức này, nay hầu như không còn tồn tại. ở một số vùng nông thôn khác chúng vẫn được bảo lưu nhưng vai trò của chúng rất hạn chế.

Như vậy, ngày nay hầu như mọi người dân Nhật Bản đều còn giữ lại cho mình một số mối quan hệ họ hàng gần xa mà trước kia đều thuộc về cùng một ie và Dozoku với họ. Như trước, trong đầu họ vẫn còn nhớ rõ họ thuộc về một dòng họ nào đó. Mặc dầu, trong các quan hệ cuộc sống hàng ngày nói chung với những người họ hàng ngày nay được hình thành trên cơ sở cá nhân nhưng dẫu sao thì đại bộ phận người Nhật Bản đều là những “người nghiêm chỉnh” chấp hành theo những nghĩa vụ đạo đức với những người “cùng dòng họ”, thậm chí ngay cả khi các mối tiếp xúc giữa họ bị gián đoạn do các nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan. Ví dụ như, nghĩa vụ đạo đức bắt buộc đại bộ phận người Nhật Bản phải gửi thiếp hoặc quà mừng cho những người họ hàng gần xa và quà mừng nhân ngày Sheibo và Tjuren là những ngày lễ ấn định theo lịch vào giữa và cuối hàng năm.  Nghĩa vụ về mặt đạo đức ngày nay cũng đòi hỏi các cá nhân, chỉ trong từng trường hợp thật đặc biệt mới được vắng mặt ở các đám cưới và đám tang của những người họ hàng nhưng vẫn phải giữ nghĩa bằng cách gửi quà như vậy. Mặc dầu đã là họ hàng của nhau, nhưng đi đám cưới hoặc đám tang mọi người đều phải mang theo phong bì hoặc quà phúng viếng, kể cả họ hàng xa. Người Nhật Bản có cách tiếp cận và ứng xử mang tính hình thức trong việc thực hiện những nghĩa vụ mang tính đạo đức, để sao cho phù hợp với hoàn cảnh.Việc tham dự các đám cưới hoặc đám tang đôi khi chưa chắc đã do tình cảm thôi thúc mà còn là do họ “phải làm thế nào”để dư luận chấp nhận, nếu như không muốn rơi vào tình trạng vi phạm đạo đức và bị xã hội lên án. ở đây, một mặt nào đó, thấy biểu hiện của chủ nghĩa hình thức trong các mối quan hệ giữa những người bà con họ hàng, nhất là những người bà con họ hàng xa với nhau. Ngày nay, ở Nhật Bản, đối với những người họ hàng xa có khi vài năm chẳng gặp nhau lấy một lần, và việc mang quà cáp đến tặng nhau là điều không nhất thiết phải có, nhưng người ta vẫn đặt hàng như : thiếp mừng, bánh trái, hoa quả, vài bánh xà phòng, vài lọ nước hoa v.v… do các cửa hàng mang đến hộ. Trong cách tặng quà còn thấy biểu lộ có sự so sánh địa vị xã hội cũng như địa vị trong dòng họ của người được tặng quà với món quà bằng hiện vật hoặc bằng tiền sao cho phù hợp với chuẩn mực chung được mọi người chấp nhận. Trong đám tang, đám cưới, tiệc mừng khai trương cửa hàng mới v.v…. Số tiền mừng hoặc phúng viếng còn phụ thuộc vào mối quan hệ giữa người đó với thân chủ. Gần đây, một ngân hàng ở Nhật Bản đã tiến hành cuộc điều tra về mối liên quan giữa số tiền mừng và người được mừng, trên cơ sở đó để xác định “vị trí”của người đó trong dòng họ. Đối tượng nghiên cứu là các bà vợ làm nội trợ khi được mời tham gia một bữa tiệc khai trương cửa hàng. Kết quả cho thấy khi người tổ chức là anh hoặc em người được mời, thì người được mời phải mừng khoảng 50 ngàn yên; đối với cháu trai hoặc cháu gái, mừng khoảng 30 ngàn yên; còn đối với bạn bè, người cùng cơ quan thì khoảng 10 ngàn yên. Đối với bà con họ hàng, thì người đi mừng (ăn tiệc, cưới xin…) càng khách sáo biểu lộ tình cảm của mình gây sự chú ý bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu về phía người đi mừng và càng lặng yên tiếp nhận mọi thứ thì càng hay bấy nhiêu đối với phía người nhận.

Các mối quan hệ giao tiếp giữa người Nhật Bản với bà con họ hàng cũng thấy nét đáng lưu ý, đó là mối quan hệ giữa các anh, chị em ruột đối với nhau không lấy gì thân mật cho lắm so với ở các quốc gia khác. Các nhà xã hội học Nhật Bản cho rằng nguyên nhân này do từ thời xa xưa chỉ có người con trai cả là người duy nhất thừa kế tài sản của cha mẹ đẻ, trong khi đó, những người con trai thứ sau khi lấy vợ, bắt buộc phải rời ngôi nhà của cha mẹ đẻ đi chỗ khác. Còn những người con gái khác, nhìn chung, lấy chồng, chuyển sang ie nhà chồng và đổi họ theo nhà chồng. Như vậy, người con trai trưởng ngay từ khi sinh ra đã có vị trí đặc biệt trong ngôi nhà, được dạy dỗ, giáo dục để trở thành người kế nghiệp của gia đình.Vì những lý do trên, theo ý kiến của các nhà xã hội học Nhật Bản, đã dẫn dến hiện tượng là, ở Nhật Bản so với nhiều quốc gia khác, tình cảm giữa các anh, chị em ruột với nhau có vẻ lạnh nhạt, xa lạ, dửng dưng hơn. Các quan hệ giao tiếp giữa họ mang nặng tính xã giao, nhã nhặn, lịch thiệp và rất hình thức.

Những ảnh hưởng của các mối quan hệ gia tộc từ thời xa xưa cũng được biểu lộ ở những mức độ khác nhau của các mối quan hệ giao tiếp của các gia đình với bà con họ hàng bên chồng cũng như bà con họ hàng bên vợ. Tuy vậy, gần đây, sự khác biệt bề ngoài của các mối quan hệ giao tiếp không khác nhau nhiều và người ngoài khó nhận biết.Tương tự như Việt Nam, với họ hàng bên người chồng, các mối quan hệ ở phần đông các gia đình có phần gia tăng hơn so với gia đình bên vợ. Chính các mối quan hệ họ hàng theo dòng cha có tác động ít ra là bề ngoài mạnh mẽ hơn đối với đông đảo các gia đình Nhật Bản. Hiện tượng này cũng tương tự như ở Việt Nam, mặc dầu những mối quan hệ giao tiếp giữa các anh chị em ruột ở Việt Nam còn thân thiết và không đến nỗi tẻ nhạt, hình thức như ở Nhật Bản. Phải chăng, một mặt do tính chất kế thừa tài sản gia đình theo tập tục không giống ở Nhật Bản. Với hệ thống kế vị gia đình của người con trai trưởng (chô nan) vô hình chung đã gạt tất cả những người con khác trừ người con trai trưởng trong gia đình ra khỏi gia đình kể cả con trai hay con gái. Trong cách đối xử đối với con cái cũng có những khác nhau từ bé. Một đằng được dạy dỗ để sau này kế nghiệp gia đình với những ưu đãi nhất định, còn đằng khác, tương tự như những người làm công, chờ đợi đến một lúc nào đó phải rời ngôi nhà cha mẹ đẻ đi nơi khác. Do vậy, giữa chúng từ bé đã biết thân phận của mình. Không ít các nhà báo phương Tây đã cho thấy điều này. ở nước ta, mối quan hệ giữa con cái và cha mẹ còn bình đẳng hơn ở Nhật Bản. Người con gái khi chưa đi lấy chồng, ở nhà bố mẹ đẻ, ít nhiều đều được đối xử bình đẳng như đối với con trai. Khi đi lấy chồng, tuỳ tình cảnh gia đình, ít nhiều đều được của hồi môn. Và điều quan trọng hơn nữa, theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu thì mặc dầu cùng bị ảnh hưởng của đạo Khổng, vị trí của người phụ nữ Việt Nam trong gia đình phần nào được coi trọng hơn so với nhiều nước.

ở Nhật Bản, không hiếm trường hợp họ hàng bên chồng tham gia trực tiếp vào các công việc gia đình, còn gia đình bên vợ thường chỉ là những người khách danh dự, điều này không ngoại trừ các trường hợp tiếp xúc giữa người vợ với họ hàng bên vợ tư vấn về các vấn đề như: chăm sóc, giáo dục trẻ, quản lý các công việc gia đình…

Trong cuộc sống hàng ngày, thỉnh thoảng người Nhật cũng thăm hỏi bà con, họ hàng.Những người bà con,họ hàng gần như anh, chị em ruột cũng như bố mẹ đẻ được người Nhật quan tâm thăm viếng thường xuyên hơn so với bà con họ hàng xa. Nhận định trên được một chuyên gia về lĩnh vực gia đình của Nhật Bản là Morioka Kiyomi đưa ra từ cuộc điều tra quan hệ giữa các bà mẹ có ít con ở Trung tâm phát triển nhà Hibarigaoka ở Tokyo năm 1965 với câu hỏi: chị thường thăm viếng những ai trong số bà con họ hàng? Kết quả cho thấy: 37% có thăm viếng bố mẹ đẻ; 31% có thăm viếng bố mẹ chồng; 29% có thăm viếng anh, chị em ruột; 16% có thăm viếng anh, chị em của chồng(2) Cuộc điều tra cũng cho thấy, có mối quan hệ giữa những người được phỏng vấn với họ hàng và hàng xóm láng giềng.Thấy có quy luật, người được phỏng vấn càng thăm viếng những người họ hàng (bao gồm bố mẹ, anh chị em ruột, bố mẹ, anh, chị em chồng…) nhiều bao nhiêu thì giao tiếp với hàng xóm láng giềng giảm đi bấy nhiêu và ngược lại.

Song, ngày nay, bên cạnh truyền thống duy trì các quan hệ qua lại giữa người Nhật Bản với bà con họ hàng, thì những luồng gió mới có nguồn gốc phương Tây cũng bắt đầu được biểu lộ. Ví dụ, chính những bà con họ hàng chiếm đại đa số khách mời tham dự các bữa ăn trưa hoặc ăn tối theo kiểu châu Âu, thường được tổ chức tại các gia đình thuộc tầng lớp giàu có. Theo một cuộc thăm dò dư luận xã hội do Công ty Denshu tiến hành, cho thấy có đến 78% số gia đình mời họ hàng đến ăn cơm kiểu này. Trung bình một vị khách là bà con họ hàng được mời 4,7 lần trong một năm.

Và ngày nay cũng xuất hiện một hiện tượng mới, đó là mời những người bà con họ hàng về nhà ăn cơm được nhiều cặp vợ chồng xem như là biểu tượng của sự khá giả, dư dật và hạnh phúc. Do vậy, họ phải cố gắng thực hiện, mặc dầu thực tế cặp vợ chồng chẳng có gì là khá giả. Tâm trạng như vậy thường thấy ở những cặp vợ chồng trẻ mới lấy nhau những năm gần đây. Sau đám cưới, số bà con họ hàng tăng lên nhiều lần, và đối với họ thì phần lớn đều là những người chưa hề quen biết. Có rất nhiều thứ nghĩa vụ mới liên quan tới các mối quan hệ giao tiếp với bà con họ hàng bắt đầu níu kéo họ, nhất là mối quan hệ với mẹ chồng, chị, anh em chồng khi còn đang chung sống dưới một mái nhà. Nhiều cặp vợ chồng tan vỡ vì không giải quyết được những mâu thuẫn nảy sinh từ những mối quan hệ này.

Người Nhật Bản có câu giáo huấn: “người vợ không nên tham dự vào những cuộc tranh cãi giữa chồng và mẹ chồng”. Tốt nhất là hoà giải, không thì tỏ thái độ không đồng tình với cả hai. Không bao giờ được bênh chồng (cho dù người chồng đúng) vì như vậy thì có thể mẹ chồng sẽ có ấn tượng không tốt và có thể sẽ không bao giờ tha thứ.

Một trong những yếu tố giữ gìn hạnh phúc gia đình trong các quan hệ giao tiếp đối với họ hàng bên vợ theo một số người là cần phải tuân thủ đúng những mối quan hệ qua lại. cũng phải tuân thủ nguyên tắc cơ bản: “bố mẹ vợ không được can thiệp vào những công việc gia đình con gái, thậm chí với những ý định tốt”, bởi vì việc can thiệp như vậy dù cho có thiện ý tốt đến đâu chăng nữa theo ý kiến nhiều nhà nghiên cứu cũng sẽ là nguồn gốc tiềm ẩn nảy sinh những xung đột sau này. Tốt nhất, mọi quan hệ đối xử với con gái nên thông qua toàn gia đình nhà chồng của con gái. Ví dụ, bố mẹ đẻ có gửi quà cáp cho con gái thì nên thay vào đó gửi cho bố mẹ chồng của con gái (nếu con gái cùng sống với bố mẹ chồng)v.v…

Điều kiện chính yếu của các mối quan hệ thân thiện với bà con họ hàng là trong mối quan hệ phải giữ gìn ý tứ của một nàng dâu đối với các anh em trai cũng như chị em gái của chồng mình. Người vợ không phải có nghĩa vụ trước anh chị em chồng, bởi vì ngày nay người Nhật Bản không xem các anh chị em của cả bên chồng và vợ là những thành viên của gia đình. Do vậy không nên để chồng mình sống trong cùng một căn hộ, hoặc ở trong một ngôi nhà trong một thời gian dài cùng với chị hoặc em vợ để tránh các “quan hệ không hay”, và cũng tránh cho việc con cái của họ hàng vào thành phố làm việc hay học tập ở nhờ trong một thời gian dài dễ nảy sinh những điều không hài lòng về nhau.

Trong các sách báo, đôi khi cũng tìm thấy những lời khuyên, nên tránh trong quan hệ, giao tiếp với những người họ hàng, nhất là vấn đề tiền nong, hoặc là vay mượn này nọ. Một trong những điều kiện quan trọng của hạnh phúc gia đình là vợ chồng nên tránh bằng mọi khả năng để không liên quan tới các vấn đề về tiền nong với họ hàng. Cụ thể là không cho ai vay và cũng không vay tiền của ai. Trong trường hợp không thể từ chối được thì cho vay dưới sự chứng kiến của người ngoài và phải viết giấy vay mượn hẳn hoi. Nhưng phải luôn nhớ rằng: tốt nhất là không nên cho họ hàng vay tiền và nếu không thể tránh được thì nên cho vay càng ít càng tốt để không phải ân hận khi mất số tiền này. Và trong sách báo cũng đưa ra những lời khuyên cho những người đi vay nên nhớ về số tiền phải trả. Khi đòi tiền cũng nên viện những lý do như là rất cần tiền cho việc sinh con, phải làm đám cưới, sửa chữa nhà cửa…

Cũng đừng nên có những sơ suất trong các chuẩn mực quan hệ qua lại giữa những người cùng dòng họ trong trường hợp mượn tạm đồ dùng của nhau. Việc trả lại những thứ đã mượn nên kèm theo một món quà nho nhỏ để cảm ơn. Trong những lời khuyên, cũng nên chú ý tới điều sau “Nếu như có ý định nhờ vả điều gì đó ở người bà con họ hàng, thì nên biểu lộ lòng kính trọng với họ nhiều hơn so với người ngoài” và v.v…

Trên đây là những nét chính về các mối quan hệ qua lại giữa gia đình và dòng họ ở Nhật Bản trong thời gian vài ba thập niên gần đây. Việt Nam đang trên con đường công nghiệp hoá đất nước. Quá trình này đang tác động đến gia đình và dòng họ, có thể có những nét trong các mối quan hệ giữa gia đình và dòng họ của Nhật Bản cũng sẽ có ở người Việt Nam. Vì thế việc nghiên cứu tìm hiểu về những vấn đề đó để có kinh nghiệm vận dụng vào Việt Nam thiết nghĩ là điều cần thiết.

Tài liệu tham khảo

1. Latưsev I.A- Cuộc sống gia đình của người Nhật Bản, Nxb Matxcơva.1985.

2. Ochiai Emiko- The Japanese Family System in Transition, Published by LTCB International Library Foundation, 1997.

3. C.A. Arutiunov- Lối sống hiện nay của người Nhật Bản. Nxb Matxcơva 1983.

TS.Trần Mạnh Cát

Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á

http://cjs.inas.gov.vn/Default.aspx?Content=ViewDetailType&CSDL=2&Id=537

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s