TÌM HIỂU VỀ THIÊN HOÀNG MINH TRỊ (phần 1)

Thiên Hoàng Minh Trị
 明治天皇
Meiji-tennō

thienhoang1 Tìm hiểu về Minh Trị Thiên Hoàng Meiji Tenno

Hình Minh Trị Thiên hoàng trong sách Tenno Yondai No Shozo (天皇四代の肖像, Thiên hoàng Tứ đại chi  Tiêu tượng), xuất bản bởi NXB Mainichi (Mainichi Shinbun Sha, 毎日新聞社, Mỗi Nhật Tân văn xã).

Thông tin chung

Thiên hoàng thứ 122 của Nhật Bản
Trị vì 3 tháng 2 năm 1867 – 30 tháng 7 năm 1912
Đăng quang: 3 tháng 2 năm 1867
Tiền nhiệm: Hiếu Minh Thiên hoàng
Thủ tướng:
Itō Hirobumi
Kiyotaka Kuroda
Sanetomi Sanjō
Aritomo Yamagata
Masayoshi Matsukata
Ōkuma Shigenobu
Tarō Katsura
Kinmochi Saionji

Kế nhiệm: Đại Chính Thiên hoàng
Vợ: Chiêu Hiến Hoàng thái hậu

Hậu duệ:

Đông cung Thái tử, sau là Đại Chính Thiên hoàng
Công chúa Masako
Công chúa Fusako
Công chúa Nobuko
Công chúa Toshiko

Tên đầy đủ: Mutsuhito (Nhật: 睦仁 Mục Nhân?)
Tước vị: Thiên hoàng (天皇, tennō), Ngự Môn hay Đế (Mikado, 御門 hay 帝 hoặc みかど)

Niên hiệu
Minh Trị: 1868 – 1912
Thụy hiệu: Minh Trị Thiên hoàng
Hoàng tộc: Nhà Yamato
Hoàng gia ca: Kimi ga Yo
Thân phụ: Hiếu Minh Thiên hoàng
Thân mẫu: Nakayama Yoshiko
Sinh: 3 tháng 11 năm 1852 tại Kyōto, Nhật  Bản
Mất: 30 tháng 7 năm 1912 tại Đông Kinh, Nhật  Bản
Tôn giáo: Thần đạo

Thiên hoàng Minh Trị (Nhật: 明治天皇 (Minh Trị Thiên hoàng) (11 tháng 3 năm 1852 – 30 tháng 7 năm 1912), còn gọi là Minh Trị Đại Đế, Minh Trị Thánh Đế, Mutsuhito Đại Đế, là vị Thiên hoàng thứ 122 của Nhật  Bản theo Danh sách Thiên hoàng truyền thống, trị vì từ ngày 3 tháng 2 năm 1867 tới khi qua đời. Ông được  coi là vị hoàng đế anh minh và có công lớn nhất trong lịch sử Nhật  Bản, đã canh tân và đưa nước này trở thành một quốc gia hiện đại. Tên thật (húy) ông là Mutsuhito (Nhật: 睦仁 Mục Nhân?). Giống như các tiên đế, ông chỉ được nhắc đến bằng thụy hiệu từ khi qua đời, dù thỉnh thoảng ông được gọi là Thiên hoàng Mutsuhito[2] hoặc đơn giản là Mutsuhito ở ngoài Nhật  Bản. Ngoài trường hợp là người thân trong Hoàng gia, ai nói tên thật của Thiên hoàng sẽ bị xem là phạm húy. Khi Thiên hoàng qua đời, người kế vị ông sẽ đặt niên hiệu mới cho mình. Vốn đã cai trị trong thời kỳ Minh Trị, ông được biết với tên gọi Thiên hoàng Minh Trị (hay Nhật hoàng Minh Trị).

 Vào thời điểm ông ra đời (1852), Nhật Bản là một nước nông nghiệp với quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu, thực hiện chính sách Tỏa Quốc giới hạn giao thương với nước ngoài, lại nằm dưới quyền Mạc phủ Tokugawa (Đức Xuyên Mạc Phủ) và các lãnh chúa đại danh (daimyō) cát cứ ở 250 phiên (han). Ông lên ngôi năm 1867 khi mới 14 tuổi rưỡi và chiến thắng của phe bảo hoàng chiến tranh Mậu Thìn đã giúp ông khôi phục Đế quyền. Dưới triều đại ông, cuộc cải cách Minh Trị Duy Tân được thực hiện. Cuộc Minh

Trị Duy Tân đã tạo điều kiện cho nước Nhật phát triển theo đường lối chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc, rồi còn bành trướng ra nước ngoài. Với chiến thắng trước nhà Thanh trong chiến tranh Giáp Ngọ, và đế quốc Nga trong chiến tranh Nga-Nhật, Nhật Bản đứng hàng ngũ các cường quốc thế giới.

Mặc dù không phải tất cả những sự kiện trên đều do một mình Thiên hoàng Minh Trị làm ra, nhưng tất cả được thực hiện dưới “Thánh chỉ của Thiên hoàng” và dĩ nhiên ông có nhiều đóng góp, dính líu đến trong đó. Vì vậy, Thiên hoàng Minh Trị được nhiều người chú ý nhất trong số các Thiên hoàng Nhật Bản. Những nhà lãnh đạo trong chính quyền Minh Trị cũng cố gắng đưa Thiên hoàng trở thành biểu tượng của sự thống nhất và lòng trung thành của dân tộc Nhật Bản, dựa trên niềm tin Hoàng gia thiêng liêng, là con cháu của Thiên Chiếu Đại Thần Amaterasu. Có người tôn vinh ông, nhưng cũng có người chỉ trích ông một cách thẳng tay.

Thân thế và tuổi nhỏ

Mutsuhito là con trai thứ của Thiên hoàng Hiếu Minh. Mẹ ông là thị nữ Nakayama Yoshiko (中山慶子, Trung Sơn Khánh Tử, 1834 – 1907),[6] con gái của lãnh chúa Nakayama Tadayasu thuộc gia tộc Fujiwara, đã có lúc làm Tả đại thần. Ông ra đời 8 tháng trước khi Phó đề đốc Matthew Calbraith Perry và đội “Chiến Hạm Đen” của Hoa Kỳ đến vịnh Giang Hộ và 2 năm trước những hiệp ước mà Mạc phủ Tokugawa ký với Perry, gồm những điều khoản không có lợi cho Nhật Bản.

Vị hoàng tử trẻ được đặt tên là “Hữu cung” (さちのみや, Sachi-no-miya). Phần lớn thời thơ ấu của ông trôi qua tại gia đình Nakayama ở kinh đô Kyōto, theo phong tục ủy thác nuôi dưỡng trẻ em Hoàng gia cho các thành viên ưu tú của cung đình. Mutsuhito bắt đầu học khi chín tuổi. Ông là một học sinh thờ ơ, và, về cuối đời, ông đã viết những bài thơ tỏ lòng ân hận rằng bản thân ông đã không chuyên tâm hơn trong môn tập viết. Ngày 11 tháng 7 năm 1860, ông chính thức được nhận nuôi bởi Asako Nyōgō (sau này là Anh Chiếu Hoàng thái hậu), nữ ngự (nyogo) của Thiên hoàng Hiếu Minh. Ông được đổi tên là Mục Nhân (Mutsuhito – hàm nghĩa đối xử với mọi người hòa mục, nhân từ), được phong chức Thân vương (Shinnō), lại được phong chức Hoàng thái tử (Kōtaishi) cùng ngày.

Theo 10 đại hoàng đế thế giới, cái tên Mutsuhito đúng là hợp với vẻ ngoài của hoàng tử lúc đó. Ngay từ lúc nhỏ, ông chỉ quanh quẩn với các cung nữ và sống cách biệt với thế giới bên ngoài, lại còn được cha mẹ hết sức cưng chiều, yêu quí, nên Mutsuhito trở thành một cậu bé nhút nhát, yếu đuối và hay sợ sệt. Tháng 8 năm 1864, binh sĩ của Mạc phủ và phiên Trường Châu đánh nhau với quân của phiên Long Ma tại cửa hoàng cung, và tiếng súng nổ trong trận đánh đã khiến Mutsuhito té xỉu vì quá sợ, và sau khi tỉnh dậy cậu bé vẫn còn chui rúc vào lòng các cung nữ để trốn, tỏ ra không có một tí can đảm nào cả. Nhiều triều thần sợ rằng, theo đà tiến triển của cuộc xung đột giữa chính quyền Mạc phủ và các lực lượng chống đối thì hai bên lại có thể đánh nhau ở kinh đô Kyōto, và lúc này Mutsuhito sẽ chết vì quá sợ.

Phần lớn tuổi trẻ của Thiên hoàng Minh Trị chỉ được biết qua các ghi nhận về sau. Theo Donald Keene, tác giả cuốn Emperor of Japan: Meiji and His World, 1852–1912, các ghi nhận thường có sự mâu thuẫn. Một người đương thời mô tả tiểu hoàng tử là một người to khỏe, hơi giống một tên du côn và thể hiện tài năng xuất chúng trong môn sumo. Theo những ghi nhận khác, vị hoàng tử là một người mảnh khảnh và hay bị ốm. Một số người viết tiểu sử Minh Trị nói ông đã ngất xỉu khi nghe tiếng súng lần đầu tiên, nhưng điều này bị bác bỏ bởi một số người khác.

Tuy nhiên, do thân thế là một hoàng tử, Mutsuhito cũng bị tiêm nhiễm phải nhiều thói tật không lành mạnh của một cậu bé quý tộc, ví dụ như cậu thiếu sự đồng cảm với những người yếu thế. Một lần nọ, thấy một cụ
già bị sẩy chân té xuống nước, Mutsuhito không những không kêu người đến cứu mà còn phá lên cười khoái chí. Dạo khác, Mutsuhito mang kéo đi cắt phá tan hoang những cành dây leo trang trí trong hành lang cung vua, rồi vu khống cho người khác. Và việc cầm khẩu súng bắn nước đi chọc phá các cung nữ cũng là một trò vui của tiểu hoàng tử.

Quá trình lên ngôi đầy sóng gió

Bối cảnh lịch sử

Trong suốt thời niên thiếu của hoàng tử Mutsuhito, nước Nhật đang trong buổi giao thời giữa cái cũ và cái mới. Mặc dù suốt hai thế kỷ trước năm 1854, Nhật Bản giới hạn nghiêm ngặt việc giao thương với người nước ngoài, điều này không có nghĩa là ngoại thương hoàn toàn chấm dứt. Người Nhật vẫn buôn bán với nhà Triều Tiên thông qua đảo Đối Mã, Mãn Thanh qua Nam Tây Chư Đảo và Hà Lan qua thương điếm Dejima (Xích Đảo), một hòn đảo nhân tạo nằm ngoài khơi cảng Nagasaki. Nhờ sự tiếp xúc với người Hà Lan, các nghiên cứu khoa học của phương Tây vẫn tiếp tục được tiếp thu trong thời kỳ này với cái tên “Lan học” (rangaku), cho phép người Nhật học hỏi và làm theo phần lớn các bước của Cách mạng khoa học và Cách mạng công nghiệp. Một số người thuộc tầng lớp võ sĩ, nhận được sự giáo dục tốt thì bắt đầu tìm tòi con đường cải cách. Mối quan hệ buôn bán hạn chế với Hà Lan đã phần nào giúp chủ nghĩa tư bản phương Tây thâm nhập vào xã hội phong kiến Nhật Bản và đẩy nhanh sự sụp đổ của nó, vốn đã rạn nứt nghiêm trọng trong suốt một thời gian dài trước đó.

Năm 1854, Phó đề đốc Hải quân Hoa Kỳ là Matthew Calbraith Perry mang một hạm đội 9 chiếc tàu chiến tới buộc Nhật Bản mở cửa, chấm dứt thời kỳ bế quan tỏa cảng. Nhưng người Mỹ đã bắt chính quyền Mạc phủ ký một hiệp định buôn bán bất bình đẳng. Tiếp đó, các đế quốc như Hà Lan, Anh, Pháp, Nga,… cũng đua nhau tới và ép Mạc phủ ký các hiệp ước tương tự. Việc mất đi một loạt chủ quyền quốc gia khiến Nhật Bản đứng trước cuộc khủng hoảng dân tộc và này gây bất mãn trong quần chúng nhân dân. Mạc phủ sớm
đối mặt với sự thù địch ở trong nước, được cụ thể hóa thành phong trào bài ngoại “Tôn hoàng, nhương di”, tức nâng cao uy tín Thiên hoàng, đánh đuổi người ngoại quốc ra khỏi xứ sở. Các Phiên vùng Tây Nam Nhật Bản – vốn từ lâu bất mãn với Mạc phủ – đã nhân cơ hội này đi rêu rao khắp nơi rằng chính quyền Mạc phủ câu kết với người nước ngoài, bán đứng chủ quyền quốc gia; mưu dùng chiêu bài “Tôn hoàng, nhương di” để lật đổ chế độ Mạc phủ.

thienhoang2 Tìm hiểu về Minh Trị Thiên Hoàng Meiji Tenno

Kanrin Maru, tàu chiến hơi nước chạy chân vịt đầu tiên của Nhật, năm 1855.

Mạc phủ hăng hái theo đuổi quá trình hiện đại hóa, nhưng đối mặt với sự bất mãn ngày càng tăng ở trong nước chống lại mối nguy với chủ quyền quốc gia vì các mối liên hệ với phương Tây. Thiên hoàng Hiếu Minh ủng hộ xu thế này, và – phá vỡ truyền thống hàng thế kỷ của Hoàng gia – bắt đầu giữ vai trò chủ động trong công việc triều chính: khi cơ hội đến, Thiên hoàng phản đối lại các hiệp ước và cố can dự vào việc nối ngôi Tướng quân. Đỉnh cao nỗ lực của Thiên hoàng Hiếu Minh là vào tháng 3 năm 1863 với “Nhương di sắc mệnh”. Mặc dù Mạc phủ không có ý thi hành chiếu chỉ, điều này sau này lại hại chính Mạc phủ và người nước ngoài ở Nhật: sự kiện nổi tiếng nhất là việc thương nhân Charles Lennox Richardson bị sát hại, và cái chết của Richardson đã khiến Mạc phủ phải trả tiền bồi thường lên đến 10 vạn bảng Anh. Những cuộc tấn công khác bao gồm việc bắn phá tàu ngoại quốc tại Shimonoseki.

Trong năm 1864, những hành động này bị các thế lực ngoại quốc đáp trả dữ dội, ví dụ như vụ bắn phá Kagoshima của quân Anh và bắn phá Shimonoseki của liên quân các nước. Cùng lúc, quân đội Chōshū, cùng với những lãng nhân bài ngoại, tiến hành cuộc nổi loạn Hamaguri cố chiếm kinh đô Kyōto, nhưng Tướng quân tương lai là Tokugawa Keiki dẫn đầu đội quân chinh phạt và đánh bại họ. Vào lúc này, sự kháng cự trong giới lãnh đạo phiên Chōshū cũng như triều đình giảm xuống, nhưng vài năm sau, gia tộc Tokugawa không thể kiểm soát được toàn bộ đất nước nữa khi mà phần lớn các đại danh (daimyō) bất tuân các mệnh lệnh và yêu cầu từ Edo.

Nhận thức về tình hình chính trị náo loạn của hoàng tử Mutsuhito được Keene xem là không chắc chắn. Trong thời gian này, cậu học thơ tanka, đầu tiên học với phụ hoàng Hiếu Minh, sau học với các nhà thơ của cung đình.

Lên ngôi và lật đổ chế độ Mạc phủ

Sau cuộc đảo chính nội bộ và cuộc nổi loạn cách tân của phiên Chōshū bị Mạc phủ cử quân viễn chinh dẹp tan, phiên Chōshū bí mật liên minh với phiên Satsuma, và tìm cách liên minh với phiên Tosa. Tuy vậy, cuối năm 1866, đầu tiên là Tướng quân Tokugawa Iemochi (Đức Xuyên Gia Mậu) và sau đó đến ngày 30 tháng 1 năm 1867 Thiên hoàng Hiếu Minh qua đời. Tokugawa Keiki (Đức Xuyên Khánh Hỉ) lên kế vị chức Chinh di Đại Tướng quân (Shōgun). Trước đây vốn là người thuộc phái cải cách, Keiki đã thực hiện một nỗ lực cuối cùng nhằm hiện đại hóa chính quyền Mạc phủ và biến Nhật Bản thành một quốc gia theo cơ cấu Tây phương. Còn Mutsuhito – lúc này chỉ là một cậu bé 14 tuổi rưỡi – được mọi người tôn làm Thiên hoàng, chính thức lên nối ngôi ngày 3 tháng 2 năm 1867, trong một nghi lễ ngắn ở kinh đô Kyōto. Những sự kiện này tạo ra “một xu thế không thể tránh khỏi”. Đứng trước tin này, lực lượng chống Mạc phủ ngay lập tức đề ra kế hoạch nắm lấy miếng “Ngọc” – tức khống chế Thiên hoàng rồi sau đó sẽ “ôm lấy Ngọc” – tức lợi dụng danh nghĩa Thiên hoàng để tiêu diệt chính quyền Mạc phủ. Lúc này, Thiên hoàng Mutsuhito chỉ là một cậu bé, suốt ngày cứ chơi đùa với các cung nữ một cách vô ý thức. Cậu hoàn toàn không có năng lực và kinh nghiệm chấp chính, chỉ làm một vị hoàng đế bù nhìn, đóng dấu và ký tên vào những văn kiện đã  được soạn thảo sẵn. Thiên hoàng cũng tiếp tục học tập, nhưng không học về những vấn đề chính trị.

Đầu tiên, Iwakura Tomomi (Nham Thương Cụ Thị) – một người hầu cũ của Thiên hoàng Hiếu Minh – trước tiên lôi kéo số công khanh trong triều đình, thuyết phục họ đứng về phía chống Mạc phủ, cùng nhau thao túng Thiên hoàng. Họ khuyên Thiên hoàng ban lệnh ân xá cho tất cả những thành viên chống Mạc phủ đang bị giam trong tù. Sau đó, vào ngày 8 tháng 11 năm 1867, họ thuyết phục Thiên hoàng xuống mật chiếu chinh phạt lực lượng Mạc phủ do Tokugawa Keiki đứng đầu. Đến hôm sau (9 tháng 11), mật chỉ của Thiên hoàng đã được truyền xuống hai phiên Satsuma và Chōshū. Tờ mật chỉ có đoạn:

Không thảo phạt được tên giặc này thì đối với trên làm sao đáp tạ được thần linh của tiên đế, đối với dưới làm sao trả được thâm thù của muôn dân ?

thienhoang3 Tìm hiểu về Minh Trị Thiên Hoàng Meiji Tenno
Chinh di Đại Tướng quân Tokugawa Keiki, năm 1867.

Trước tình hình đó, theo đề xuất của đại danh phiên Tosa, Keiki tuyên bố “trả lại đại quyền” cho Thiên hoàng và từ bỏ chức vụ “Chinh di Đại tướng quân”, đồng ý trở thành “công cụ thực thi” mệnh lệnh của Hoàng gia. Mạc phủ Tokugawa chấm dứt. Tuy nhiên thông qua việc khống chế hội nghị của các phiên, Keiki hy vọng mình vẫn có thể nắm thực quyền như trước đây. Tất nhiên phái chống Mạc phủ không dễ gì mắc bẫy của Keiki, họ tiếp tục dùng danh nghĩa của Thiên hoàng để điều động quân đội từ các địa phương về. Sáng sớm ngày 3 tháng 1 năm 1868, họ lại “nhờ” Thiên hoàng ra lệnh giải tán hết các đội cảnh vệ của Mạc phủ đóng trong Hoàng cung, thay vào đó là lực lượng của phái chống Mạc phủ. Tiếp theo, Thiên hoàng lại ban bố lệnh phục hồi chính quyền cổ của Thiên hoàng, xóa bỏ chế độ Mạc phủ, đặt ra ba quan chức Tổng Tài, Nghị Định, Tham dữ. Cho đến lúc này Thiên hoàng Mutsuhito đã hoàn toàn nằm trong tay phái cải cách, nhưng họ vẫn còn lo sợ thế lực của gia tộc Tokugawa. Thế là phái chống Mạc phủ lại thuyết phục Thiên hoàng ban sắc lệnh buộc Keiki “từ quan nộp đất”, tức tước đoạt binh quyền và lãnh địa của Keiki.

Tokugawa Keiki phản ứng ngay. Keiki phát động một chiến dịch quân sự với mục đích chiếm lấy triều đình ở Kyōto, tuyên bố sẽ thanh trừ bọn “phản tặc” chung quan Thiên hoàng. Đáp lại, Thiên hoàng lại ban bố sắc lệnh sẽ đích thân cầm quân chinh phạt “tên giặc” Keiki đang mưu cướp đoạt quyền lực quốc gia. Đôi bên đã đánh nhau tại khu vực Điểu Vũ, Phục Kiến gần kinh đô Kyōto. Tình hình quân sự nhanh chóng  chuyển biến theo hướng có lợi cho phe bảo hoàng, tuy nhỏ hơn nhưng được hiện đại hóa mạnh mẽ hơn. Đồng thời, đông đảo dân nghèo và nông dân cũng nổi dậy chống lại Mạc phủ. Cuối cùng, Keiki buộc phải đầu hàng tại đại bản doanh Edo và đến ngày 3 tháng 5 năm 1868, Keiki rời chùa Thượng Dã Khoan Vĩnh Tự đến Mito (Thủy Hộ), nơi triều đình lưu đày Keiki. Dư đảng của gia tộc Tokugawa rút lui về phía bắc Honshū rồi sau đó là Hokkaidō, nơi họ thành lập nước Cộng hòa  Ezo (Hà Di). Thất bại trong trận Hakodate khiến họ mất đi căn cứ địa cuối cùng và phe bảo hoàng chính thức nắm quyền lực tuyệt đối trên toàn nước Nhật, hoàn thành giai đoạn quân sự trong cuộc Minh Trị Duy Tân. Ngày 18 tháng 5 năm 1869, Tổng thống Ezo là Enomoto Takeaki đầu hàng và chấp nhận quyền thống trị của Thiên hoàng Minh Trị. Khoảng 12 vạn binh sĩ được huy động trong cuộc chiến, và có khoảng 3.500 người chết.

Dời đô và đặt niên hiệu mới

thienhoang4 Tìm hiểu về Minh Trị Thiên Hoàng Meiji Tenno
Thiên hoàng Minh Trị mới 16 tuổi, chuyển từ Kyōto về Đông Kinh, vào cuối năm 1868.

Sau khi hoàn thành việc xóa bỏ chế độ Mạc phủ, ngày 3 tháng 9 năm 1868 Thiên hoàng Mutsuhito xuống chiếu đổi tên thành phố Giang Hộ – đại bản doanh cũ của chính quyền Mạc phủ – thành Đông Kinh   (Tōkyō), đồng thời phái người trang trí và xây dựng lại ngôi thành của Mạc phủ thành Hoàng cung mới. Ngày 12 tháng 10 năm 1868, Thiên hoàng chính thức làm lễ đăng quang tại Tử Thần điện ở cố đô Kyotō. Theo đề nghị của các đại thần, ông đặt niên hiệu là Minh Trị, dựa theo câu “Thánh nhân nam diện thính thiên hạ, hướng minh nhi trị” trong chương Thuyết Quái của Kinh Dịch. Đây cũng là thụy hiệu của Thiên hoàng. Điều này đã mở đầu một truyền thống mới: Thiên hoàng chỉ đặt duy nhất một niên hiệu, sau khi ông qua đời nó cũng trở thành thụy hiệu của ông.

Sau lễ đăng quang của mình, Thiên hoàng Minh Trị ra chiếu chỉ Ngũ cá điều ngự thệ văn, ủng hộ hội họp thảo luận, hứa tăng cơ hội cho dân thường, hủy bỏ các hủ tục của thời kỳ trước, và tìm kiếm tri thức trên toàn cầu để “củng cố nền móng Đế quyền”

Ngày 4 tháng 11 năm 1868, triều đình Thiên hoàng rời Kyotō về đóng về đóng đô tại Đông Kinh. Đông Kinh là nơi có những điều kiện thuận lợi về kinh tế, địa lý và chính trị, giúp Thiên hoàng dễ trị vì hơn. Năm 1873, do lâu đài Edo bị cháy, nên ông phải chuyển sang Nghênh Tân quán. Năm 1874, các khí đốt được ông cho phép nhập và sử dụng để thắp sáng thủ đô Đông Kinh. Đây là lần đầu tiên khí đốt được sử dụng ở Nhật Bản. Ngày 11 tháng 1 năm 1869, ông phong Masako (về sau đổi tên thành Haruko) (9 tháng 5 năm 1849–19 tháng 4 năm 1914), con gái thứ ba của Tả đại thần Ichijō Tadaka (Nhất Điều Trung Hương) làm Hoàng hậu (tức Chiêu Hiến Hoàng hậu).[28] Masako là hoàng phi đầu tiên được phong chức Hoàng hậu (kōgō), trong vòng vài năm.

Những năm đầu làm vua (1868 – 1878)

thienhoang5 Tìm hiểu về Minh Trị Thiên Hoàng Meiji Tenno
Thiên hoàng Minh Trị trẻ tuổi trong bộ Sokuda, ảnh chụp bởi Uchida Kuichi năm 1872.

Trải qua hàng loạt sự biến trên, cuối cùng thì địa vị chí tôn của Thiên hoàng Minh Trị đã được xác lập. Hoàng gia vốn suy yếu suốt nhiều thế kỷ nay đã phục hồi lại. Nhưng lúc ban đầu, Thiên hoàng Minh Trị không trực tiếp điều hành triều chính. Căn cứ theo Chính Thể thư ban hành năm 1868, quyền lực nằm trong tay một cơ quan tên là Thái Chính quan (bao gồm Nghị Chính quan, Hành Chính quan, Quân Vụ quan, Hình Pháp quan, Hội Kế quan). Trong khoảng thời gian này, các triều thần thuộc phái chống Mạc phủ trước đây là những người nắm thực quyền, họ dùng danh nghĩa của Thiên hoàng để thực thi các cải cách tư bản chủ nghĩa như: bỏ Phiên lập Huyện, cải cách thuế đất, trả lại bản tịch, xóa bỏ hạn chế đối với nông, công, thương nghiệp,… Quyền lực chính trị và quân sự của các phiên hoàn toàn bị bãi bỏ, và các phiên sớm được đổi thành các tỉnh, với thống đốc được Thiên hoàng bổ nhiệm. Triều đình cũng cho người sang các nước phương Tây, học về hệ thống chính trị, quân sự và kinh tế ở những nơi này.

thienhoang6 Tìm hiểu về Minh Trị Thiên Hoàng Meiji Tenno
Thiên hoàng Minh Trị trẻ tuổi trong bộ quân phục. Cũng là ảnh chụp bởi Uchida Kuichi năm 1873.

Đồng thời các quan viên cũng thực hiện nhiều thay đổi nơi hậu cung và thay đổi cả con người của Thiên hoàng Minh Trị. Đầu tiên, họ cử Motoda Eifu (Nguyên Điền Vĩnh Phù), một người tinh thông Tống Nho làm Thị giảng (thầy dạy học của vua) mới cho Thiên hoàng. Eifu đã dạy Thiên hoàng về Quốc học, Nho học, Thi ca và cũng nhồi nhét tư tưởng lấy đại nghĩa danh phận làm trung tâm. Sau đó Yoshī Tomo (Cát Tỉnh Hữu Thực), bạn thân của Okubo Toshimichi, được bổ nhiện làm Cung nội Đại thừa, cai quản nội cung. Tomo đã tái bổ nhiệm một loạt các Thị tùng trưởng và thị tùng mới cho Thiên hoàng. Tomo cũng giải tán toàn bộ số Nữ quan – tức các thị nữ trong cung – và tiến hành tuyển lựa một số Nữ quan mới với số lượng chỉ bằng 1/3 trước kia và với thực quyền bị hạn chế gắt gao để ngăn không cho họ lạm quyền như trước. Đồng thời, Tomo mời một số cựu võ sĩ của Mạc phủ Tokugawa như Sơn Cương Thiết Thái Lang, Tân Điền Thôn Bát,… vào cung dạy võ thuật, kiếm thuật, cưỡi ngựa,… cho vị Thiên hoàng vốn yếu rất yếu mềm, qua đó cũng gieo tinh thần tôn sùng võ công, ham thích chiến đấu vào ông. Tomo cũng mời một số nhân sĩ có tư tưởng đổi mới để giảng dạy cho Thiên hoàng về phương pháp trị nước và xử thế của giai cấp tư sản cùng nhiều tri thức mới khác. Như Nishimura Shigeki (Tây Thôn Mậu Thọ) dạy cho ông về chính trị và luật pháp của nước Pháp; Hukuhane Mishizu (Phúc Vũ Mỹ Tịnh) dạy ông về sự lập chí của các nước phương Tây; còn Katō Hiroyuki (Gia Đằng Hoàng Chi) – về sau trở thành một cận thần của Thiên hoàng – dạy ông về luật pháp nước Đức. Thiên hoàng cũng học tiếng Đức trong thời gian này.

Sự cải cách trong nội cung đã thay đổi con người Thiên hoàng Minh Trị rất nhiều. Từ một cậu thiếu niên yếu đuối, nhu nhược, suốt ngày chui rúc trong hậu cung để chơi đùa với các cung nữ, ông đã trở thành một con người mạnh khỏe, cường tráng, ham học hỏi, yêu thích võ nghệ, và đặc biệt trở nên rất ghét việc vào hậu cung. Ông đặc biệt rất hâm mộ Napoléon Bonaparte, ông từng hỏi Shigeki rất kỹ lưỡng về thân thế, tính tình, sự nghiệp xưng bá của Napoléon và không ngớt lời khen ngợi việc Napoléon đã từng lập nên một Đế quốc Pháp hùng mạnh. Thậm chí vào năm 1871, ông đã dặn dò phái đoàn khảo sát châu Âu của Imakura là phải sưu tập thật nhiều sách vở nói về vị Hoàng đế Pháp này. Nhân vật Napoléon Bonaparte đã để lại nhiều ảnh hưởng cho Thiên hoàng Minh Trị trong công việc trị quốc sau này.

Những sự chuyển biến về tính cách của Thiên hoàng Minh Trị đã đặt một nền tảng vững chắc cho quá trình đích thân chấp chính của ông sau này.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s